Nhập từ khoá cần tìm

Truyện » Truyện Ngắn » Người Cắt Lau

Số lần đọc: 360
Nguồn: lmvn.com
Tác giả: Tanizaki Jun. ichirô (1886-1965)

Lời Người Dịch:
Theo niên biểu đời sáng tác của Tanizaki Jun. ichirô, tác phẩm Người Cắt Lau (Ashikari) được đăng trên tạp chí Kaizô vào tháng 11 năm Shôwa thứ 7 (1932) lúc nhà văn 46 tuổi. Ta biết lúc này Tanizaki đã thành danh. Những tác phẩm ra đời trước thời điểm đó đều được đánh giá như có tầm vóc lớn.
Từ năm 1923, sau trận động đất lớn ở Tôkyô và miền Đông, Tanizaki về sống ở miền Tây nên phần sau của văn nghiệp ông có nhiều tác phẩm liên quan đến vùng Kyôto - Ôsaka, trong đó phải kể đến Tuyết mịn (Sasameyuki, 1942-1947), Góp nhặt truyện cô Cầm (Shunkinshô, 1933) và dĩ nhiên, Người cắt lau (Ashikari, 1932).
Trong một buổi mạn đàm văn học khoảng thời gian nhà xuất bản Chuô Kôron cho ra đời tuyển tập của Tanizaki, Mishima Yukio đã đồng ý với ý kiến của Donald Keene khi nhà nghiên cứu và dịch giả người Mỹ lập luận rằng trong Người Cắt Lau không phải chỉ có một truyện mà là hai truyện lồng làm một khi Tanizaki với chủ đích viếng thăm đền Minase nơi thờ thái thượng hoàng Gotoba (1180-1239), đã tình cờ biết được sự tích của người con gái hiện đại đẹp như một nữ thần tên là O-Yuu. Theo Keene, lối hành văn trong truyện này cũng giống cách Prosper Mérimée (1803-1870) viết Carmen. Nhân đi tìm những phế tích La Mã còn sót lại ở Tây Ban Nha mà nhà văn và nhà khảo cổ Pháp mới nghe nói đến bi kịch ái tình giữa Don Jose và Carmen. Có điều tuy cũng uyên bác như Mérimée nhưng thủ pháp của Tanizaki tinh xảo hơn. Trước khung cảnh hoang vu của ly cung Minase, với một giọng văn hoa lệ pha đôi chút khinh bạc, ông đã sử dụng điển cố thi văn Trung Quốc và Nhật Bản để làm sống lại được cái thế giới phong lưu của một thời đã qua.
Nhân vật người cắt lau không phải là vai chính. Ông ta chỉ dòm trộm quá khứ qua lỗ khoá và khoác lác với đời sau. Nhưng tại sao ông ta lại đội lốt người cắt lau ? Phải chăng ông là hậu thân của người đàn ông lưu lạc trong truyện dân gian, cắt lau bán độ nhật, sau được đoàn tụ với vợ mình trong tác phẩm cổ điển Yamato Monogatari (do tác giả vô danh thu góp, ra đời khoảng thế kỷ thứ 10) ? Hay là một hình tượng dân dã cùng một loại với ông tiều, nhà sư tu trên núi, người múc nước triều làm muối ... thấy trong waka giúp cho bài thơ có một bối cảnh nhiều phong vị ? Hoặc chỉ là hồn ma trong tuồng Nô kể cho thầy tăng vân du sự tích trong vùng thầy ta đang đi qua? Người cắt lau đó cũng có thể là Tanizaki-lữ-khách, tưởng gặp một hồn ma nhưng rốt cuộc gặp chính bóng của mình.
O-Yuu (cô Du) trong phần thứ hai của câu truyện, một người có nhan sắc lộng lẫy kiêu kỳ mà nhân vật nam không với tới được, nhân vật nữ cũng phải tôn thờ, có phải là hình bóng nối tiếp trong chiều sâu lịch sử những cô gái làng chơi (du nữ) được thần thánh hóa như bồ tát trong phần đầu hay không ? Hoặc nàng là hóa thân của Kaguya-hime, cô tiên trên cung trăng bị đọa xuống trần làm con lão tiều đốn trúc trong cổ tích Taketori Monogatari (1)  của Nhật Bản? Đó cũng là một câu hỏi thú vị vì nó liên quan đến khuynh hướng sùng bái nhan sắc phụ nữ thấy qua văn chương Tanizaki.
Nguyên tác Ashikari rút từ Tuyển tập Văn Học Nhật Bản (Nihon no Bungaku), quyển thứ ba trong ba quyển dành cho Tanizaki Jun. ichirô (các quyển 23,24 và 25) mà nhà Chuuô Kôron phát hành năm 1967. Người dịch đã tham khảo Le Coupeur de Roseaux, bản dịch Ashikari sang Pháp văn của Daniel Struve, Gallimard, 1997 để học hỏi lối dịch. Văn Tanizaki trong truyện nầy cũng như bao truyện khác, lê thê, lập đi lập lại, lè nhè một cách cố tình, không câu nệ lối chấm câu ngắt đoạn và lược hết chữ Hán nên rất khó hiểu (nhưng phải chăng đó cũng là cái duyên dáng của thuật kể truyện như " ông già bà cả " theo phong cách Tanizaki ?).

***
 Nghĩ thầm em đã vắng
Để mình tôi cắt lau
Trên bãi Naniwa
Làm sao vơi cay đắng

Đó là chuyện xảy ra vào tháng chín một năm hồi tôi còn sống ở vùng Okamoto (2). Thấy trời quá đẹp, khoảng chiều chiều, nói là chiều chứ lúc ấy vừa mới hơn ba giờ thôi, tôi bất đồ thèm đi dạo mát một vòng trong vùng. Đi xa đã không đủ thời giờ mà đi gần lại toàn những chỗ tôi viếng hết rồi. Sau khi đắn đo suy nghĩ không biết có chỗ nào thả bộ được hai ba tiếng đồng hồ, lại phải là một nơi thiên hạ quên lãng mà cả tôi lẫn người khác nếu không chịu nghĩ một chút sẽ tìm không ra thì mới được, tôi chợt nhớ ít lâu nay mình đã nuôi ý định viếng đền Minase mà chưa bao giờ có dịp. Đền Minase được cất lại trên nền cũ ly cung của thái thượng hoàng Gotoba (3) nơi được nhắc tới trong chương "Vùi trong cỏ gai" của bộ sử truyện Masu-kagami (4) như thế này:

"Thái thượng hoàng thường ngự ở các cung Toba hay Shirakawa ngài đã cho sửa chữa nhưng còn xây thêm một ly cung còn trang nhã hơn ở một nơi tên gọi Minase (5) mà xa giá đến thường xuyên. Người đời ai cũng biết rằng ngài đến đây để di dưỡng tính tình, ngắm hoa đào mùa xuân, lá hồng mùa thu, tiêu dao ngày tháng. Đặc biệt từ ngự sở có thể ngắm cảnh dòng sông đang chảy ngoài xa. Một ngày trong năm Genkyuu (1204-1206), nhân họp mặt bình thơ, thái thượng hoàng đã gieo những vần như sau:
Minase nước đôi bờ,
Dâng sương chân núi xa mờ âm u.
Cớ sao sông chuộng chiều thu?
Những hành lang, lối đi, điện đài đều có mái lợp tranh, chỗ nào trông cũng hết sức đẹp đẽ. Trước mặt cung có bày lớp đá xếp thành hình thác nước đang đổ từ núi xuống, còn trong sân, những nhánh tùng lùn chen cành cùng với đám cây rừng phủ dày rêu xanh, quả thật là phong cảnh u tịch của nơi có thể dung thân nghìn đời. Trong thời gian ngài hạ lệnh tạo dựng khu vườn, thái thượng hoàng có vời một số người đến chung vui. Vào cuối buổi, quan tham nghị bậc trung là Teika (6), lúc ấy địa vị hãy thấp kém, dâng bài thơ sau này:
Trải nghìn năm vẫn không già,
Tùng con báo trước triều ta lâu bền.
Sóng nước len đá trong vườn,
Nhiều như năm tháng quân vương trị vì.
Như thế, thái thượng hoàng ngự ở cung Minase giữa tiếng tơ tiếng trúc, xem cảnh vật thay đổi theo hoa nở lá hồng. Ngài tận hưởng cuộc nhàn du và chỉ sống theo lòng mình muốn".

Trên đây là sự tích mà sách sử ghi chép về dấu vết cung điện của thái thượng hoàng Gotoba. Ngày xưa, khi tôi vừa biết đọc Masu-kagami thì câu chuyện về cung Minase luôn luôn ám ảnh tâm trí. Từ xa ngắm dòng sông Minase dâng sương trùm chân núi và hỏi dòng sông sao lại chuộng buổi chiều thu! Tôi thích cái tâm tình thái thượng hoàng đã thổ lộ qua thơ.

Thơ ngài làm, biết bao nhiêu bài tôi vẫn khắc ghi trong tâm khảm, ví dụ khi ngài vịnh về bến Akashi có câu "Thuyền câu chèo vào sươngmù" hay trong thời gian ngài bị đày ngoài đảo Oki "Ta bỗng thành ra người gác đảo". Tuy nhiên, riêng lúc đọc bài thơ này, tôi thấy phong cảnh vừa bùi ngùi vừa ấm áp của một dài sông phía thượng nguồn Minase trở về trước mắt như một vật xa cách lâu ngày. Thuở ấy tôi chưa rành địa lý vùng Kansai nên chỉ phỏng đoán cung Minase tọa lạc ở một chỗ nào đó gần Kyoto. Thật tình lúc đó tôi cũng chẳng để tâm xem thực sự nó ở đâu nữa. Gần đây thôi, mới nghe nói nó nằm bên bờ sông Yodo, cách nhà ga Yamazaki có vài trăm mét, không xa chỗ giáp ranh giữa hai xứ Settsu và Yamashiro, và ngày nay, trên dấu vết cung xưa, người ta đã xây thêm ngôi đền thần đạo để cúng tế thái thượng hoàng Gotoba. Như thế, một cuộc viếng thăm đền Minase là chương trình vừa vặn cho cuộc dạo mát cuối ngày như thế nầy. Đoạn đường đến Yamazaki, ngay đi xe lửa cũng không mất bao nhiêu thời giờ nhưng tốt hơn nên đáp xe điện Hankyu rồi đổi qua đường mới Shin-Keihan. Thế rồi, nhân hôm ấy đúng rằm tháng tám, trên đường về tôi nghĩ thế nào mình cũng phải ghé ngắm trăng bên bờ dòng Yodo. Ý đã quyết và bởi vì nơi đó không phải là chỗ đem theo đàn bà còn nít, tôi bèn lên đường mà không báo ai hay.

Yamazaki thuộc quận Otokuni trong xứ Yamashiro, nền cố cung Minase lại thuộc quận Mishima xứ Settsu. Nếu đi từ Osaka, tốt hơn nên lấy đường mới Shin-Keihan xuống ga Ô-Yamazaki, rồi đi ngược lại và vượt qua lằn ranh hai vùng trước khi đến được cố cung. Tôi chỉ biết về Yamazaki nhờ có một dịp nào đó đã ghé khu chung quanh nhà ga xe lửa liên tỉnh và hôm nay mới là lần đầu tiên tôi thử đi dạo dọc theo đường quốc lộ về phía tây. Đi được một đỗi, con đường chẻ làm hai nhánh. Lối bên tay mặt có một tấm cột đá chỉ đường nom đã xưa cũ . Đó là con đường đi từ sông Akuta đến Itami băng qua Ikeda. Nếu ta còn nhớ sự tích ghi chép lại trong tập ký sự chiến tranh Shinchôki (7), vùng này và ven tuyến đường nối Itami, Akutagawa và Yamazaki chính là nơi các danh tướng thời Chiến Quốc như Araki Murashige và Ikeda Shô. nyuusai đã để lại những chiến công hiển hách. Có lẽ ngày xưa nó là tuyến đường chính cũng nên. Con đường nương theo dòng sông Yodo này có thể tiện lợi cho những người dùng thuyền nhưng vì nó xuyên qua nhiều vàm sông hoặc đầm lầy lau sậy mọc tràn, có thể gây bất tiện cho khách bộ hành. Nhân đó tôi cũng biết thêm một số chuyện như bến đò Eguchi (8) ngày xưa, nay nằm ngay chỗ bên cạnh đường xe lửa vừa đưa tôi đến đây. Bây giờ, Eguchi đã ở trong khuôn vi của Ôsaka mở rộng; còn Yamazaki thì kể từ năm ngoái, khi diện tích Kyôto nới ra, nó đã được sáp nhập vào thành phố nầy. Tuy nhiên vì khí hậu và phong thổ của hai vùng Kyôto và Ôsaka không được đồng nhất như vùng Hanshin (Ôsaka và Kobe), và có lẽ những khu biệt thự cây xanh và khu gia cư hiện đại khó lòng lan rộng mãi nên Yamazaki may ra giữ được khung cảnh đồng quê thêm ít lâu nữa. Đọc truyện Chuujingura(9) còn thấy thời ấy tả cảnh lợn rừng và cướp núi vẫn lảng vảng gần đường cái làm người ta có thể nghĩ rằng ngày xưa nơi đó còn rùng rợn hơn nhiều. Ngay bây giờ, đối với hành khách sử dụng đường xe điện Hankyuu vốn đã quen mắt với phố phường thôn xóm hiện đại, hình ảnh những ngôi nhà mái rạ xếp thành hàng hai bên đường là khung cảnh thuộc về một đời nào đâu. Theo sách Ô-kagami(10) ghi lại, cũng ở nơi này, ngài Kitano Tenjin tức đại thần Sugawara no Michizane trên bước đường lưu đày, đã qui y cửa Phật và viết bài thơ bất hủ: "Ngọn cây nhà em ở đâu?. Bước đi mỗi bước ngoái đầu ta trông". Theo cuốn sử truyện, Michizane buồn phiền cay đắng vì người ta kết cho ông cái tội mà ông không hề phạm, nên trở thành tăng ở Yamazaki. Nếu thế thì trên mảnh đất này xửa xưa đã có đường giao thông dịch trạm và nơi đây phải chăng là một trạm xá cái hồi kinh đô Heian vừa mới xây xong. Tôi vừa suy nghĩ như thế vừa quan sát từng căn nhà một mà những mái hiên tối âm thầm như còn phảng phất không khí của những thời đại đã đi qua.

Muốn đi đến nền cũ cố cung, phải băng qua một cây cầu bắc ngang dòng sông có lẽ là con sông Minase, xong lội bộ thêm chút nữa ra đến đường lớn rồi quẹo trái. Ngày nay ở đó nhà nước đã bỏ tiền xây một đền thần bậc trung để tế lễ các thiên hoàng Gotoba, Tsuchimikado và Juntoku, ba vị nầy đã chịu chung vận mệnh hẩm hiu (11) sau cuộc loạn năm Jokyuu (1221). Đối với một vùng như ở đây vốn có nhiều đền thần và chùa chiền nguy nga đẹp đẽ thì cái đền bậc trung kia lẫn cảnh vườn của nó không có gì đáng kể. Chỉ vì nhớ lời thuật lại trong sách Masu-kagami vừa mới nói tới mà lòng tôi bồi hồi khi tưởng như nhìn được qua từng phiến đá cành cây cảnh tượng những cuộc yến ẩm vui chơi theo bốn mùa của giới quyền quí Kamakura thuở đó. Sau khi ngồi xuống vệ đường để hút một điếu thuốc, tôi bắt đầu lững thững đi qua đi lại trong khu vườn không mấy rộng của ngôi đền. Mảnh vườn chỉ cách con đường một khoảng ngắn và nấp đằng sau mấy túp nhà dân thưa thớt có những hàng dậu điểm đủ loại hoa mùa thu bao bọc. Nó thụt vào giống như cái túi con, yên tĩnh và khuất mắt người qua lại. Thế nhưng xưa kia cung điện của thái thượng hoàng Gotoba hẳn không chỉ giới hạn trong mảnh đất chật hẹp nầy mà phải trải ra đến tận bờ sông Minase đằng kia, nơi tôi vừa băng qua. Có lẽ khi nhìn mặt sông từ trên lầu cao xây bên bờ nước hay lúc đi dạo thẩn thơ trong khu vườn, thái thượng hoàng đã tìm ra nguồn thi hứng mà ngài đã đưa vào trong câu: "Dâng sương chân núi xa mờ âm u". Masu-kagami cũng ghi lại: "Một ngày mùa hè, thái thượng hoàng ngự ở đình câu cá trong điện Minase. Lúc ấy ngài giải khát bằng nước mát và hạ lệnh đem một loại như cơm ướp lạnh ban cho bọn công khanh trẻ tuổi đi theo. Sau đó, khi uống rượu, ngài mới phán: "Ôi chao, cái bà Murasaki Shikibu (12) xưa kia, đáng nể thật. Còn gì thú vị hơn khi biết được rằng trong Truyện Genji, bà ghi lại là bữa cơm của ông hoàng Genji có món cá hương ayu đánh được từ con sông bên cạnh hay những con cá trê loại ishibushi từ Nishiyama đem đến tiến. Phải chi ngày nay ta có thể thưởng thức những món ấy". Lúc ấy có một kẻ tên gọi Hata trong bọn tùy tùng đang đứng dưới bao lơn, không xa ngài bao nhiêu, nghe những lời đó mới hái mấy lá tre mọc bên bờ đầm, đặt lên đó ít cơm trắng đã dầm trong nước sông dâng lên ngài. Thái thượng hoàng bảo : " Trong Truyện Genji có chỗ chép "Như hạt mưa đá trên tấm lá tre. Vội tan biến khi tay ta chạm đến". Làm như ngươi cũng là một cung cách vượt người thường " Rồi ngài cởi ngự bào trao cho kẻ tùy tùng ấy và uống thêm mấy chung rượu nữa ".

Khi nhớ đến đoạn văn nầy, người ta tưởng tượng là ngày trước, cái đầm có đình câu cá có thể ăn thông với dòng sông bằng lối nào đó. Hơn thế, dòng sông Yodo phải chăng chảy đằng sau điện thờ và về hướng Nam, ở chỗ chỉ cách xa chốn nầy khoảng vài trăm mét. Từ nơi tôi đứng bây giờ, không thể nào nhìn thấy dòng nước. Bên kia bờ, ngôi đền Hachiman và ngọn Otokoyama tròn trịa thấy như treo ngang tầm mắt và tưởng chừng muốn đổ trùm lên người nhưng tôi cảm thấy không có dòng sông lớn nào chắn ngang giữa nó và mình. Tôi ngẩng đầu lên nhìn kè đá Iwashimizu của ngọn núi nầy xong quay qua đỉnh ngọn Tenno, mọc đối diện với nó phía bờ bên nầy, ở phía bắc điện thờ. Khi đang đi trên đường cái, tôi không để ý gì cả nhưng từ khi đặt chân đến đây và nhìn khắp bốn phương, tôi mới thấy mình đang đứng dưới đáy một thung lũng hình lòng chảo, hai phía nam bắc có núi chắn bầu trời như những bức bình phong. Nhìn thấy hình sông thế núi, ta hiểu được ngay vì sao tự thời Heian, vương triều đã lập một cửa quan trên đất Yamazaki và vùng nầy trở thành một cứ điểm chiến lược cho những thế lực muốn tấn công kinh đô từ ngõ phía tây. Nơi này, đồng bằng Yamashiro mà trung tâm điểm của nó là Kyoto ở phía đông, và đồng bằng Setsukasen (13) ở phía tây chung quanh Ôsaka, như bị thu lại cực hẹp và dòng sông Yodo chảy lọt chính giữa. Hai thành phố Kyôto và Ôsaka tuy được nối với nhau bằng dòng sông này nhưng điều đó không ngăn việc khí hậu và phong thổ của hai vùng có một biên giới rõ ràng phân biệt. Dân Osaka hay bảo khi trời mưa ở Kyoto thì bên tây Yamazaki lại nắng; mùa đông khi xe lửa vừa qua khỏi Yamazaki thì khí hậu bỗng trở lạnh đột ngột. Do đó, cứ nhìn cảnh các lùm tre bao bọc lấy thôn làng, nhìn cách xây cất những ngôi nhà dân dã, vẻ thanh u của cây cỏ, màu đất cát, người ta thấy nó không khác chút nào cảnh chung quanh vùng Saga và có cảm tưởng miền quê Kyoto như kéo dài lên mãi tận đây.

Đi ra khỏi khu đền, tôi men theo con đường nhỏ phía sau quan lộ và trở lại bên bờ sông Minase rồi quẹo ngoặt lên đê. Có lẽ hình dáng những ngọn núi phía thượng nguồn và cả dòng nước chắc đã chịu nhiều biến đổi trong khoảng thời gian bảy trăm năm qua nhưng cái phong cảnh như được âm thầm vẽ ra lòng tôi mỗi khi tôi ngâm nga những bài thơ của thái thượng hoàng thì không khác những gì đang trải rộng dưới mắt tôi bây giờ. Tôi vẫn thường nghĩ phong cảnh ở nơi đây phải có dáng dấp gần giống như thế này thôi. Không phải là sơn thủy hùng vĩ kỳ tuyệt với những vách núi cao vòi vọi, những thác nước bào mòn bờ đá và đổ xuống ào ạt nhưng chỉ có những ngọn đồi thoai thoải với dòng nước lặng lờ. Nhờ những đợt sương chiều bao quanh, phong cảnh ở đây thêm êm ả và thanh bình giống như một bức tranh Yamato-e (14). Thật ra, cách thưởng thức cảnh vật thiên nhiên nơi mỗi người mỗi khác và có thể có người nghĩ nơi đây không có gì đáng xem cả. Tuy nhiên đối với tôi, những ngọn núi tầm thường và dòng nước cũng tầm thường, không có gì là vĩ đại hoặc đem đến sự bất ngờ như sông núi nơi đây, lại có thể mời mọc tôi vào trong giấc mộng ngọt ngào và khiến tôi quyến luyến không nỡ rời chúng. Nếu phong cảnh chốn nầy không làm đã mắt hay đoạt hồn người ta, bù lại nó biết đón nhận du khách bằng cái mỉm cười dễ thương tươi tắn. Với những ai chỉ nhìn thoáng qua, nó không thổ lộ gì nhưng đối với những kẻ nán lại lâu hơn một chút, họ sẽ thấy mình được bao bọc bằng một tình cảm dịu dàng như trong vòng tay ấm áp của người mẹ hiền. Đặc biệt trong cái cô đơn lúc chiều về, ta muốn được cuốn hút vào trong lớp sương nhạt đang chơi vơi trên mặt nước và đưa tay ra vẫy gọi ta từ xa. Dầu vậy, thái thượng hoàng Gotoba đã đặt câu hỏi: "Cớ sao sông chuộng chiều thu ? " Bởi vì, như trong câu thơ gợi ý, nếu phong cảnh con sông này được đặt vào giữa buổi chiều xuân, nếu có làn sương hồng đang giăng mắc ngang chân núi êm ả, điểm thêm mấy chòm hoa anh đào nở rải rác hai bên bờ sông, giữa những đỉnh núi và thung lũng nữa thì sẽ ấm cúng dường nào. Ta có thể nghĩ là phong cảnh như thế đã từng bày ra trước mắt của ngài. Thế nhưng phải là một người tâm đắc với nghệ thuật như thái thượng hoàng thì mới biết thưởng thức cái đẹp sâu sắc nấp dưới cái vỏ bình dị của phong cảnh chốn nầy. Cái đẹp ấy nếu là người không có tấm lòng hoài cảm sự ưu nhã của vương triều (15) xưa thì có lẽ chỉ coi là tầm thường thôi. Mình tôi vẫn đứng lặng trên đê khi chiều dần dần buông xuống, đưa mắt về phía thượng nguồn. Nhìn qua bờ sông bên phải để tìm dấu tích ngôi đình câu cá nơi ngày xưa thái thượng hoàng đã dùng món cơm dầm nước sông với đám tùy tùng và các công khanh, tôi chỉ thấy vùng đó nay đã thành rừng cây cối um tùm chạy mãi tận đến đằng sau phía điện thờ. Điều này chứng tỏ rằng cánh rừng rộng kia có lẽ tương ứng với diện tích của nền cũ ly cung ngày trước. Không những thế, từ chỗ này có thể nhìn thấy lòng sông Yodo rộng ra, biết đó là địa điểm mà khúc cuối dòng Minase hòa nhập vào. Giờ thì tôi đã hiểu rõ ra vị trí tuyệt diệu của ly cung : phía nam có sông Yodo, phía đông có dòng Minase và nhờ nước ở chỗ mũi đất nơi hai con sông hợp lưu có thể kiến tạo một khu vườn hoành tráng rộng cả mấy vạn tsubo (16). Nếu đúng như thế thì xuống thuyền đi từ Fushimi, thái thượng hoàng có thể cập bến dưới mái hiên đình câu cá và gặp ngay được quần thần. Việc ngài đi lại được dễ dàng giữa kinh đô và ly cung phù hợp với những gì ghi lại trong Masu-kagami " Thái thượng hoàng ngự giá thường xuyên tới cung Minase ". Tôi không khỏi nhớ đến những biệt thự của các tay phú hào soi bóng trên dòng nước mà thời trẻ tôi đã thấy xây san sát ở Hashiba, Imado, Komatsujima, Kototoi , đối mặt nhau dọc theo hai bờ sông Sumida (ở Tokyo) . Có lẽ sự so sánh của tôi không được cân xứng nhưng tôi hình dung thái thượng hoàng đã đến ly cung này để tổ chức những cuộc yến ẩm và đôi lúc thốt lên: " Chao ôi, cái bà Murasaki Shikibu xưa kia, đáng nể thật ! Có điều làm sao bây giờ thưởng thức được những món ấy nữa " " hay khen ngợi một kẻ tùy tùng : " Trong Truyện Genji có chỗ chép:  Như hạt mưa đá trên tấm lá tre. Vội tan biến khi tay ta chạm đến. Làm như ngươi cũng là một cung cách vượt người thường " thì quang cảnh ấy phải chăng đã có vài điểm tương đồng với cái lề thói phong lưu của người dân sành chơi đất Edo bây giờ ? Tuy nhiên, cảnh sắc con sông Yodo, mỗi sáng mỗi chiều in bóng cái đỉnh màu xanh thẫm của ngọn Otokoyama, và trên dòng thuyền bè như mắc cửi nối liền sự giao thông với kinh đô, đã đem đến cho thái thượng hoàng một niềm an ủi và khiến những cuộc yến ẩm hội họp của ngài có thêm nguồn hứng. Đó là điều mà con sông Sumida nhạt nhẽo kia đâu thể so bì. Về sau, khi ngài thất bại trong việc lật đổ Mạc Phủ và chịu đựng 19 năm lưu đày ngoài đảo Oki, trong tiếng sóng vỗ gió gào (17), tìm lại kỷ niệm của quá khứ huy hoàng, phải chăng cảnh sơn thanh thủy tú của vùng này và những cuộc ngự du hào hoa một thời là những cái thường xuyên ám ảnh tâm trí thái thượng hoàng hơn cả ? Tiếp tục chìm đắm trong mộng ảo, trí tưởng tượng của tôi lần lượt vẽ nên cảnh tượng sinh hoạt thời đó với từng chi tiết một trong khi bên tai tôi tưởng chừng như còn vọng lại dư âm của đàn sáo cũng như tiếng suối chảy róc rách và tiếng cười nói hoan lạc của các bậc đình thần sang trọng.

Giữa khi ấy, tôi nhận ra trời đã hoàng hôn và khi lấy đồng hồ xem mới biết sáu giờ rồi. Ban ngày quá sức nóng, tôi không thể đi mà không vã mồ hôi nhưng khi mặt trời vừa lặn, đã cảm thấy gió chiều thu nổi lên làm se lạnh thịt da. Bụng đoi đói, tôi nghĩ phải đi kiếm bữa cơm chiều trong khi chờ trăng mọc. Và như thế, tôi bước xuống con đê, quay trở lại đường cái.

Không hy vọng có một cửa hàng ăn nào vừa ý ở cái thị trấn nầy, và chỉ muốn có miếng gì ấm bụng đỡ lòng, tôi bắt gặp ngọn đèn hiệu của một quán mì miến. Tôi bèn gọi hai lượng sake và hai bát kitsune-udon, thứ bánh canh bột mì có kèm bìa đậu phụ rán. Ăn xong, tôi nhờ nhà hàng hâm nóng một nậm rượu hiệu Masamune, cắp kè kè theo và bắt đầu đi xuống bãi bằng bên sông bằng con đường chủ quán chỉ dẫn để đến bến đò. Khi chủ quán biết tôi có ý định lấy thuyền ngắm trăng trên dòng sông Yodo, đã cho biết : " Tốt quá, vừa vặn xa chỗ nầy một đỗi, có bến đò cho người muốn qua thị trấn Hashimoto phía bờ bên kia. Thưa gọi là đò chứ sông ở đây rất rộng nên giữa sông có một cồn cát, trước tiên phải đi qua phân nửa sông đến bên cồn rồi từ đó lấy một con đò khác qua bờ đối diện. Dạ thầy có thể lợi dụng khoảng thời gian đó mà ngoạn cảnh ". Ông quán còn tốt bụng chỉ thêm : " Bên Hashimoto đó lại có xóm chơi bời, con đò nầy cập bến lên bờ ngay dưới xóm đó, mười giờ mười một giờ đêm hãy còn có chuyến nên nếu muốn, thầy có thể lấy thuyền đi qua đi lại nhiều lần nhìn cho mãn nhãn ". Biết chuyện hợp tình hợp cảnh như vậy tôi vui mừng quá và bắt đầu cất bước, mặc cho làn gió đêm thổi lên khuôn mặt đã ửng hồng hơi men. Con đường ra đến bến đò xem ra dài hơn khoảng cách ông chủ quán cho biết nhưng khi đi đến nơi, tôi nhận ra ở giữa sông quả có một cồn cát. Phần cuối bãi về phía hạ lưu nghĩa là trước mắt tôi đây, có thể trông thấy rõ ràng nhưng về phía thượng lưu thì đường nét chu vi của nó càng xa càng chìm theo ánh sáng mờ nhạt đang bao bọc một quãng sông nên tưởng như kéo dài mãi đến vô cùng. Nếu thế thì cồn cát nầy không phải là một cái đảo nhỏ nằm giữa con sông lớn đâu, hẳn nó là mũi đất nơi hai dòng Yodo và Katsura gặp gỡ ! Dù sao, đây là vùng đất làm điểm hẹn của các dòng sông Kizu, Uji, Kamo và Katsura và là nơi tụ hội của nước từ năm tỉnh Yamashiro, Ômi, Kawachi, Iga và Tanba. Một quyển địa dư cổ bằng tranh vẽ nhan đề " Đại cương hình thể hai bờ sông Yodo " có chép về một bến đò ở phía thượng nguồn tên là " Bến Chồn Qua " mà khoảng cách giữa hai bờ là 110 ken (18), lòng sông ở cái bến tôi đang đứng đây chắc phải rộng hơn ở bến trên đó một chút. Hơn thế nữa, cồn cát nầy không chia con sông thành hai phần bằng nhau. Cồn có vẻ sát với phía bờ tôi đang đứng hơn nhiều. Trong khi ngồi trên bãi sỏi bên bờ sông để chờ, tôi thấy con đò tách khỏi thị trấn Hashimoto tít đằng xa nơi lấp lánh mấy ánh đèn và chèo về phía cồn cát ; thế rồi khách đi đò bước xuống và cuốc bộ băng ngang cồn cát đến cái bến của con đò thứ hai để đến nơi tôi. Thật ra đã lâu tôi chưa đi đò; nhưng nếu so sánh với những lần ở các bến San-ya, Takeya, Futako và Yaguchi mà tôi còn giữ lại trong ký ức về thời thơ ấu thì cái bến đò nầy, phải chăng vì có cồn cát chia đôi dòng nước, nên có không khí thong thả chây lười hơn một bậc. Lạ cái nữa là giữa Kyôto và Ôsaka ngày nay sao vẫn còn một phương tiện giao thông cũ kỹ như thế nầy. Tôi có cảm tưởng như vừa nhặt được một vật gì quí báu không ngờ.

Trong tập sách về sông Yodo mà tôi vừa nói tới, bức tranh khắc gỗ phong cảnh Hashimoto cho thấy một vầng trăng treo giữa bầu trời đằng sau đỉnh núi Otoko, có kèm thêm một bài thơ waka của Kageki (19) :
Nhờ trăng lên Otoko,
Bao nhiều thuyền trẩy Yodo hiện ra.

Và một bài haiku khác của Kikaku (20) :

Trên Otokoyama,
Xưa trăng vẫn mới, núi là con trai ?
Trong khi chiếc đò đưa tôi chèo đến gần cồn cát, vầng trăng tròn vằng vặc đã treo sau núi Otoko (Con Trai), giống hệt như thấy trong bức họa. Cây cối xanh um bóng như nhung, ngọn núi giống một tảng mực thẫm màu vươn lên giữa không trung hãy còn vương chút ánh sáng hoàng hôn. Người lái đò ở phía bờ bên kia cồn cát mời tôi : "  Nầy ông, mau mau leo lên thuyền, còn phải đi tiếp đó " nhưng tôi nói với lại: "Dạ không, tôi nán lại trên cồn hóng gió một chút, thôi để chuyến sau!", rồi đạp vẹt đám cỏ hoang ướt sương, một mình tiến về phía đầu mũi cồn cát và ngồi xổm xuống trên bãi mọc đầy lau. Ngồi như thế chẳng khác nào giữa một con thuyền đang trôi trên dòng nước và có thể ngắm tùy thích hai bên bờ sông đang trải dài dưới ánh trăng. Đầu tôi nhìn về phía hạ lưu, con trăng nằm ở bên trái, nhưng có một vầng ánh sáng xanh lơ êm dịu ôm trọn cả vùng sông làm tôi có cảm tưởng con sông lúc nầy như tỏa rộng ra so với khi thấy nó dưới ánh sáng ban ngày hồi chiều. Bài thơ Đỗ Phủ vịnh hồ Động Đình cũng như những câu trong Tỳ Bà Hành hay một đoạn của Xích Bích Phú, những áng văn thơ chữ Hán êm tai nầy lâu ngày tôi đã quên khuấy tự dưng lại trở về âm vang trên môi tôi. Nếu nói thế thì đoàn  "thuyền trẩy trên dòng sông Yodo" mà nhà thơ Kageki đã vịnh, vào một buổi chiều ngày xưa giống như chiều nay, với cả những chiếc thuyền lớn, " thuyền ba mươi thạch ", đã xuôi ngược như mắc cửi trên mặt sông nầy. Ngày nay trên sông không còn có thuyền nào đáng gọi là thuyền mà chỉ còn những chiếc đò chở được năm sáu người là cùng. Tôi đưa nguyên nậm rượu Masamune đem theo lên miệng tu, vừa uống vừa chếnh choáng cao giọng : Tầm Dương giang đầu dạ tống khách, Phong diệp địch hoa thu sắt sắt (21). Trong khi đang ngâm mấy vần thơ ấy tôi bất chợt nhớ ra ngày xưa những nơi lau lách đìu hiu thế nầy đã xảy ra những tình huống tương tự từng thấy trong Tỳ Bà Hành của Bạch Lạc Thiên. Nếu những thôn làng như Eguchi và Kanzaki thực sự nằm ở phía hạ lưu một chút thì hẳn có không ít những nàng kỹ nữ đã lai vãng quanh vùng trên những con thuyền nhỏ len lỏi giữa mấy khóm lau. Hồi thời vương triều, có văn nhân Ôe no Masahira (22) đã viết thiên thuật sự " Quang Cảnh Gái Làng Chơi " (Yuujo wo miru no Jo) để nói đến hoạt động nhộn nhịp của các chị em và không khí trăng hoa suốt một dãi sông này :

" Vùng Kayô (Yamazaki) (23) nằm giữa địa giới ba xứ Yamashiro, Kawachi và Settsu, là một cửa biển trọng yếu trong thiên hạ, khách bốn phương đông tây nam bắc khi đi lại đều phải ghé qua. Những kẻ buôn hương bán phấn ở dưới vòm trời này, không kể già trẻ đều dắt nhau đến đây. Xóm ăn chơi đối mặt hai bên bờ, họ cột thuyền trước cửa nhà, chèo kéo khách giữa dòng sông. Những cô trẻ làm xao xuyến lòng các ông bằng son phấn và tiếng cười giọng hát, các cô luống tuổi thì nấp dưới bóng dù, ra hiệu cho hay mình đang trống bằng cách chống ngọn sào. Ôi thôi, màn thúy buồng hồng, cho dù không theo lễ giáo con nhà nhưng một cuộc vui vầy trong thuyền trên sóng không đáng để đời hay sao ! Mỗi lần đi ngang qua đây và nhìn quang cảnh nầy, ta không sao nén được tiếng thở dài ".

Qua nhiều thế hệ, con cháu Masahira có người tên Ôe no Masafusa (24) lại viết "  Bút ký về gái làng chơi " (Yuujoki), trong đó ông tả kể lại cuộc sinh hoạt diễm tình và sống động ven bờ sông này :

" Bờ nam bờ bắc không biết bao nhiêu là xóm làng. Một phân nhánh con sông chảy vào xứ Kawachi. Trong vùng gọi là Eguchi có hai trang trại, một cái tên là Miharagi thuộc về Sở Dược Thảo, một cái tên là Oniwa thuộc về Sở Bảo Trì. Khi sông vào xứ Settsu, lại qua các vùng Kanzaki và Kanishima. Nhà cửa nơi đây cứ mọc san sát, không còn chỗ lọt. Gái làng chơi tụ lại thành nhóm, chèo những chiếc thuyền con cập vào thuyền buôn lớn và rủ rê khách chung chăn gối. Tiếng hát của họ vọng đến mây trời, âm nhạc hòa theo gió nước trên dòng. Thấy nói người qua lại không ai còn nhớ về nhà và thuyền câu, thuyền buôn cứ liên tiếp mắc vào nhau lấp cả dòng sông, hết còn thấy được mặt nước. Chốn này quả là địa điểm hành lạc số một trong thiên hạ ".

Bấy giờ tôi vừa thử đi tìm trong đáy ký ức mơ hồ của mình một số đoạn văn mà tôi góp nhặt và đem ra được, vừa ngắm mặt sông vắng vẻ, chỉ có làn nước trôi buồn bã dưới vầng trăng vằng vặc. Ai trong chúng ta không có chút lòng hoài cổ. Nhưng sắp đến cái tuổi năm mươi dễ xúc cảm thì nỗi buồn bâng khuâng lúc thu về mà hồi son trẻ tôi chẳng đoái hoài gì, lại đè nặng không sao tưởng tượng. Một ngọn lá sắn lay động trước ngọn gió thôi cũng đủ làm lòng tôi dậy lên niềm cảm xúc khôn nguôi. Huống chi trong buổi chiều như hôm nay, lại ngồi bó gối ở nơi như chốn nầy, làm sao tôi không cảm thấy cái mong manh bèo bọt của những mưu đồ do con người mà nay không còn vết tích, cũng như làm sao không luyến tiếc về thời đại hoa lệ đã tan biến vào quá khứ. Trong tập " Bút ký về gái làng chơi " có ghi lại tên tuổi nổi như cồn của các nàng kỹ nữ thưở ấy : Kannon (Quan Âm), Nyo. i (Như Ý), Kôro (Hương Lô), Kuujaku (Khổng Tước). Ngoài ra còn truyền lại danh tiếng những Kokannnon (Tiểu Quan Âm), Yakushi (Dược Sư), Yuya (Hùng Dã), Naruto (Minh Độ). Những nàng con gái chọn cuộc đời sóng nước ấy bây giờ đã về đâu ? Nếu các nàng chọn biệt hiệu có hơi hướm Phật giáo như thế bởi vì, cứ theo lời người ta, các nàng đinh ninh chuyện bán dâm là một sở hành của bồ tát. Hình dáng những người con gái tự cho mình là hoá thân của đức Phổ Hiền (25) và có lúc đã được các vị cao tăng cúi lạy kia có còn bao giờ xuất hiện trở lại trên dòng nước để rồi tan biến đi như những bọt sóng hợp tan ?

Tăng Saigyô (26) viết : "Khi dạo quanh những vùng kỹ nữ sống như Eguchi hay Katsuramoto, ta thấy nhà cửa của họ chen chúc nhau hai bên bờ nam bắc của dòng sông. Tội nghiệp thay, họ phải kiếm ăn bằng cái nghề chiều theo ý khách ! Rồi họ sẽ ra sao khi rời bỏ cuộc sống vô nghĩa này để sinh về kiếp sau ? Hay cái nghiệp chướng từ những đời trước lại bắt họ phải tiếp tục đời buôn hương bán phấn ? Để sống cho được một kiếp người chỉ thoáng như giọt sương, họ đã làm cái nghề mà Đức Phật nghiêm cấm. Nào chỉ có mang tội vào thân một mình, họ còn đáng trách vì đã làm cho tan nát bao nhiêu cuộc đời khác. Thế nhưng đã có bao nhiêu kỹ nữ được siêu sinh về cõi tịnh độ vì tuy làm hại cuộc đời của khách trên bến, cũng có những kẻ thực sự có lòng tốt ".
Có lẽ như thế thì các nàng kỹ nữ, như Saikyô nghĩ, đã thác sinh về đất Phật và giờ đây, với một nụ cười thương cảm, đang ngắm nhìn sự sa đọa của thế nhân, cái điều duy nhất không hề thay đổi trên cõi dương trần.
Giữa khi một mình đang tiếp tục đắm chìm trong dòng suy tưởng, một đôi tứ thơ lại chợt đến trong đầu, sợ nhỡ quên, tôi mới lấy sổ tay ra chép lại bằng bút chì dưới ánh trăng. Dè sẻn chút rượu còn sót lại, tôi tợp một ngụm, cầm bút chép, rồi lại tợp thêm ngụm nữa để chép tiếp, lập đi lập lại như thế cho đến giọt cuối cùng, xong ném cái nậm không thật xa ra ngoài dòng. Chính lúc đó tôi nghe tiếng lá lau lay động xào xạc cách chỗ tôi không xa và vừa khi tôi ngoảnh về phía phát ra tiếng động, tôi thấy một người đàn ông đang ngồi xổm trong đám lau, kiểu giống như tôi tựa bóng với hình. Ngạc nhiên, trong một chốc tôi lặng người nhìn bộ dạng ông ta không chút e dè nhưng người đàn ông ấy vẫn tỉnh queo, lên tiếng chào tôi với một giọng thoải mái :
" Trăng đẹp quá, ông hén ! Tôi thấy ông chịu chơi hết chỗ nói. Thiệt ra tôi ngồi đây nãy giờ lâu rồi nhưng không dám quấy rộn sự thanh thản của ông. Hồi nãy có trộm nghe ông ngâm Tỳ Bà Hành làm tôi cũng ngứa ngáy muốn đọc mấy câu thơ. Vậy thì ông có cho phép tôi làm nhàm tai ông một chút không ? "

Ở Tokyo đâu thấy ai bắt chuyện trơ trẽn với người không quen như cái ông nầy nhưng từ lâu tôi đã hết lấy làm lạ với tính bộp chộp của người dân miền Kansai nếu không nói đã trở thành giống họ nên trả lời không chút khách sáo:
" Thế thì quí hóa quá. Ông cho nghe đi chứ ! "
Người đàn ông đó liền đứng dậy, rẽ lau tiến đến bên cạnh tôi:
"Xin vô phép hỏi ông nhưng ông có dùng chút rượu không?"

Ông ta vừa mời vừa đưa tay gỡ một vật gì buộc bằng một sợi dây trên đầu cây gậy bằng gỗ thô. Nhìn lại thì đã thấy tay trái ông ta đang nắm một quả bầu còn trên tay mặt chìa về phía tôi một cái chén sơn .
"Tôi vừa thấy ông vứt nậm rượu mà tôi lại còn chút đỉnh đây nè. " Ông ta lắc lắc quả bầu. "Xin ông dùng chút rượu nhạt để tôi được cảm ơn ông chịu nghe mấy câu thơ tào lao tôi sắp ngâm đây. Nếu đang mềm môi mà phải ngừng thì còn gì hứng. Ở đây gió sông lại mát, có quá chén một chút chắc cũng không sao".
Chưa biết tôi có chịu hay không thì ông đã bắt tôi cầm lấy cái chén. Rượu rót vào gây âm thanh ục ục vui tai. "Cám ơn, tôi không làm khách đâu!", vừa nói tôi uống một hơi sạch bách. Không hiểu rượu này là loại gì nhưng sau khi đã uống một nậm Masamune nóng rồi, tôi mới nghiệm ra đây là một loại sake lạnh, dìu dịu, thơm mùi hương gỗ, để lại một cảm giác mát mát trong miệng. "Nầy, ông làm thêm chén nữa đi...Nầy, chén nữa nào!" Ông ta bắt tôi uống hết ba chén và khi tôi vừa uống xong chén thứ ba thì ông ta bắt đầu hát một điệu trong tuồng Nô nói về nàng Kogô (27). Có lẽ vì ông ta đã uống nhiều rượu nên làn hơi không được dài, phải gân cổ. Giọng ông lại không ngọt lắm mà cũng chẳng to nhưng được cái sâu lắng và lão luyện. Dầu sao cách hát của ông có vẽ trầm tĩnh chứng tỏ là người đã khổ công tập luyện lâu năm. Hơn nữa, lúc ngồi hát không ngượng ngùng trước một người khách lạ là tôi, ông đã để mình chìm đắm vào thế giới của vở tuồng, không cho bất cứ điều lo lắng nào có thể xáo trộn. Nghe ông hát, tôi thấy tâm hồn bay bổng của ông giao cảm được với hồn tôi, làm tôi nghĩ cho dầu tài nghệ chưa đạt đến mức cao diệu nhưng trong nghề chơi mà nuôi dưỡng được cái tâm hồn nghệ sĩ như ông ta thì đã không phải là chuyện đùa.
"Thật hay hết chỗ nói. Cảm ơn ông đã cho tôi được hưởng những giây phút thú vị như thế nầy!". Ông bạn cũng đã hết hơi, mới uống một ngụm rượu giải khát, xong lại chìa cái chén về phía tôi: "Ông làm chén nữa coi!". Cái nón lưỡi trai của ông ta chụp tới mí mắt để lại một cái bóng đen che cả nửa trên khuôn mặt nên dưới ánh trăng, khó lòng quan sát từng chi tiết, chỉ đoán ông có vẻ trạc tuổi tôi, tuy hơi gầy và nhỏ con hơn. Ông mặc trơn mỗi cái áo dài kiểu Nhật ngoài choàng thêm áo khoác đi đường (28): "Xin lỗi hơi đường đột nhưng ông có phải người Osaka không?", tôi hỏi ông ta vì sau vài câu trao đổi, tôi thấy giọng ông ta người miền Tây chứ không phải dân vùng Kyôto.
-"Dạ đúng đó. Tôi có mở một tiệm nho nhỏ bán đồ cổ ngoạn ở phía nam Osaka".
-"Thế ông trên đường đi hóng mát về chắc?"
-"Không, không. Tôi mới tới đây hồi chiều để thưởng trăng thôi. Thường mọi năm tôi lấy đường Keihan nhưng năm nay tôi lại đánh vòng theo đường mới Shin Keihan trước khi lấy đò vượt sông. Đến được đây, tôi thích quá!". Ông ta vừa nói vừa rút ra một bọc thuốc lá rời và nhồi thuốc vào tẩu.
-"Chớ năm nào ông cũng chọn một địa điểm để đi thưởng trăng hay sao?"
-"Dạ phải" Người đàn ông ngừng giây lát để có thời giờ châm tẩu thuốc, xong, tiếp lời: "Thường tôi đi ngắm trăng ở bên đầm Ogura. Tình cờ chiều này đến đây tôi mới được xem cảnh trăng sông tuyệt diệu như thế nầy. Tôi phải thưa thật là may có ông đang ngồi nghỉ ở đây mà tôi nhận ra chỗ nầy mới đáng xem. Xin cảm ơn ông đã gợi ý cho tôi. Nhìn con trăng từ đám lau giữa hai nhánh chẻ đôi của con sông Yodo này đúng là đẹp gấp mấy nơi khác". Ông ta gạt tàn vào cái hộp thuốc mang theo người rồi lại nhồi thuốc mới vào tẩu châm lửa cho hồng, vừa nói:
- "Nãy giờ nếu ông có viết được câu thơ nào vừa ý, xin cho tôi nghe với!"
-"Không, không!" Tôi trả lời và vội vàng cất quyển sổ tay vào trong ngực áo. " Được có mấy câu vụng lắm, đâu đáng để trình ông".
-"Ôi, ông đừng dạy thế!" Ông ta tuy nói như vậy nhưng không có ý ép mà cũng chẳng nài nỉ gì thêm. Rồi như đã quên khuấy chuyện đó, ông ta chầm chậm ngâm nga một mình:
Giang nguyệt chiếu, tùng phong xuy,
Vĩnh dạ thanh tiêu, hà sở vi (29)

Được một lúc, đến lượt tôi cất tiếng hỏi thăm: "Ông ở Ôsaka chắc biết lịch sử và địa lý vùng nầy. Tôi có chuyện muốn hỏi ông: có phải khắp khu vực này ngay cả bãi cát mà chúng mình đang ngồi đây ngày xưa là bến đậu thuyền của gái làng chơi, chẳng hạn cái bà Eguchi no kimi (30) mà người ta hay kể? Khi tôi ngắm con trăng nầy, tôi có cảm tưởng như hồn ma bóng quế của những nàng con gái ấy đang phảng phất trước mắt. Từ nãy giờ, tôi đã khổ tâm ra sức mà không tìm ra câu thơ nào kha khá để diễn đạt được cái ảo tưởng đó của tôi".
-"Thật là đồng thanh tương ứng" người đàn ông kia không dấu được vẻ ngạc nhiên, như reo lên: "Tôi cũng mới có cái cảm giác y hệt điều ông hỏi". Không dấu được xúc động, ông ta tiếp lời: " Nhìn ánh trăng nầy, trong đầu tôi cũng hiện ra hình ảnh một bóng ma trong quá khứ".
-"Theo như tôi phỏng đoán. tuổi ông và tuổi tôi chắc cũng sàn sàn" Tôi vừa nói vừa nhìn cho thật rõ khuôn mặt người đàn ông. "Có lẽ vì ảnh hưởng của thời gian đối với bọn mình hay sao chớ như trong trường hợp của tôi thì, mỗi khi thu về là niềm cô quạnh và sự buồn chán cứ tăng lên, năm ngoái đã hơn năm kia, năm nay còn hơn năm ngoái. Nói tóm lại, mỗi mùa thu, tôi thấm thía thấy một nỗi buồn vô cớ trở về trong lòng. Phải ở tuổi chúng mình thì mới thưởng thức được với những vần thơ cổ như "Nghe tiếng gió thổi mà đâm giật mình" (31) "Gió thu lay động bức rèm buồng ta" (32) Nói như vậy đâu phải vì mùa thu buồn mà mình ghét nó. Ngược lại đằng khác. Hồi còn trẻ, trong bốn mùa, tôi thích mùa xuân nhưng có tuổi rồi thì tôi nôn nao đợi mùa thu đến còn hơn cả đợi xuân về. Cùng với thời gian, con người ta như trở nên cam chịu và mở rộng lòng mình để vui mà chấp nhận qui luật có sinh có diệt của thiên nhiên, muốn sống một cách bình lặng và thăng bằng hơn, có phải không ông?Do đó thay vì ngắm phong quang đẹp đẽ thì tìm nguồn an ủi trong cảnh vật bi thương, cũng có khác gì thay vì tham luyến cái lạc thú hiện thực thì đắm đuối nhớ về những niềm vui thỏa trong quá khứ. Nói cách khác, tâm tình hướng về quá khứ, đối với những người trẻ, chỉ là điều không tưởng, chả mảy may dính líu với hiện thực nhưng đối với người già thì nó là cách duy nhất để có thể tiếp tục sống với hiện tại".
-"Ông hoàn toàn có lý!" Người đàn ông gật gù ra vẻ đồng cảm. "Nếu ai ai cũng phải trải qua sự thay đổi tự nhiên như thế khi mình có tuổi thì điều đó cũng phải xảy đến cho tôi. Tôi còn nhớ lúc tôi hãy còn nhỏ xíu, cứ đến đêm rằm tháng tám, ông già tôi bắt tôi phải lội bộ theo ông hai, ba dặm (33) đường trong đêm trăng. Ngay bây giờ, tới ngày nầy tháng nầy tôi vẫn còn nhớ lại những kỷ niệm của thời xưa ấy".
Ông già tôi hồi đó cũng như ông bây giờ, ổng thường bảo tôi: "Tuổi con chưa hiểu hết được cái buồn của đêm thu đâu, nhưng đến lúc nào đó rồi mầy sẽ hiểu, con ạ!".
-"Rốt cục, ông cụ hành động như thế với mục đích gì vậy? Bộ ông cụ thích ngắm trăng rằm lắm hay sao? Lại còn bắt ông lúc còn non nớt như vậy mà phải lội bộ hai ba dặm đường như thế thì ..."
-"Lần đầu tiên ông già ổng kéo tôi đi theo thì tôi mới có bảy, tám tuổi nên không hiểu gì hết. Cha con sống ở một căn nhà sâu trong ngõ hẻm, mà lúc đó bà già tôi mất đã được hai, ba năm rồi. Nhà chỉ có hai cha con, liệu chừng vì vậy, đi đâu, ổng bắt buộc phải dắt tôi theo. Dù sao, tôi nhớ ổng hay rủ: "Này, thằng nhóc! Bố đưa con đi xem ông trăng nhá !". Tôi còn nhớ, hai cha con ra khỏi nhà lúc trời hãy còn nắng rồi xuống bến Hachiken-ya lấy tàu thủy chạy bằng hơi nước - hồi đó chưa có xe điện - để đi ngược dòng sông. Hai cha con rời thuyền ở Fushimi, sau này tôi mới biết, và tôi lặng lẽ bước theo cha mải miết suốt một quãng đê dài. Cuối cùng chúng tôi đến cạnh bờ đầm lớn. Bấy giờ thì tôi hiểu đó là bờ đê Ogura và cái đầm cùng tên. Con đường tôi vừa đi qua khoảng một dặm rưỡi đến hai dặm mỗi một chiều".

Tôi mới xía miệng hỏi: " Thế nhưng, ông cụ bắt ông đi xa như thế để làm gì hở? Chẳng lẽ cụ đưa ông đi lòng vòng chỉ để xem ánh trăng chiếu trên mặt đầm thôi à?
-"Tôi chỉ biết cha tôi lâu lâu lại dừng chân trên đê, nhìn đăm đăm mặt đầm rồi hỏi tôi "Con thấy cảnh đẹp không nào!" . Vẫn tiếp tục bước theo ông, nghe cha nói trong tâm hồn nhỏ dại của tôi cũng cảm thấy ừ nó đẹp thật. Khi chúng tôi đi ngang qua một trang viện có lẽ là phủ đệ của một gia đình quyền quí, tôi nghe có tiếng đàn koto, shamisen và kokyuu (34) vọng ra ngoài chòm cây lá rậm rạp. Cha tôi dừng chân một đỗi lâu trước cửa ngôi nhà, lắng tai nghe, xong không biết bất chợt suy nghĩ thế nào mà lại bắt đầu đi lòng vòng dọc theo bức tường vây quanh phủ đệ rộng lớn ấy trong khi tôi rảo bước đi theo. Tiếng đàn koto và shamisen mỗi lúc nghe càng rõ hơn, và có cả tiếng người vẳng nhẹ ra, chứng tỏ chúng tôi đi đến gần ngôi vườn phía sau nhà. Ở đây, ngôi tường đã nhường chỗ cho một hàng rào cây xanh. Cha tôi bèn kiếm một chỗ thưa cây để có thể nhìn xuyên qua. Tôi không hiểu sao ông ta lại cứ bất động như thế và không bỏ đi đâu nữa. Tôi cũng bắt chước ông, thò mặt vào đằng sau một khoảng thưa giữa chòm lá dòm vào bên trong. Đó là một bãi cỏ rộng với nhiều ngọn đồi nhân tạo, có một con lạch nước tràn trề, trên đó là một cái sàn cao với hàng hiên lát chiếu có bao lơn bao chung quanh. Năm sáu người vừa đàn ông vừa đàn bà đang dự tiệc. Bên cạnh lan can có trưng bày một số cỗ bàn, rượu và đèn đuốc, mấy cái vò lớn cắm các loại hoa lau susuki và hagi (35) tươi ...cho ta biết mục đích của buổi gặp gỡ là để thưởng trăng. Một bà, ngồi ở vị trí chủ tọa, đang gảy đàn koto, trong khi một người đàn bà khác, búi tóc theo kiểu Shimada (36) , có vẻ là một người hầu gái, đang chơi shamisen. Ngoài ra còn có một ông già mù, chắc là nhạc sư hay lão nghệ nhân môn nào đó, đang kéo kokyuu. Từ chỗ tôi đứng, không thể nào quan sát tường tận các nhân vật nhưng đối diện với chúng tôi là một bức bình phong vàng ánh, đằng trước có một người hầu gái trẻ khác đầu cũng búi tóc kiểu Shimada, đang nâng quạt múa một điệu vũ. Cho dù không nhìn rõ nét mặt của người đó, chúng tôi cũng có thể theo dõi từng động tác một. Một phần vì thời đó làm gì điện đã bắt đến nơi, một phần có lẽ muốn tăng thêm không khí tao nhã, họ có thắp mấy chùm đèn nến bên hàng hiên mà ánh sáng chập chờn in lên trên những cột gỗ bóng và bức bình phong dát kim nhũ. Ánh trăng chiếu sáng mặt nước của con lạch, bên bờ có cột một chiếc thuyền con: nước của con lạch có lẽ lấy từ đầm Ogura vào và chiếc thuyền con có thể đưa người ta ra thẳng ngoài đầm. Một chốc sau, điệu vũ chấm dứt và mấy người hầu gái đem mấy gáo rượu sake đến rót cho thực khách. Từ chỗ chúng tôi đứng, nhìn cung cách lễ phép của những người hầu, có thể phỏng đoán bà đánh đàn koto là nữ chủ nhân và những nhân vật khác trong tiệc là khách đến chơi cho có bạn. Quang cảnh nầy xảy ra cách đây đã trên bốn mươi năm; vào thời đó, người giúp việc của những nhà cố cựu ở vùng Kyôto và Ôsaka vẫn con ăn mặc như thị nữ trong phủ đệ. Ngoài lời ăn tiếng nói, lối cư xử lễ độ, nhà chủ nếu có sở thích đặc biệt, có thể cho dạy họ cả những nghệ thuật tiêu khiển. Cái ngôi nhà mà chúng tôi đến phải là biệt thự của một nhà giàu có và người đàn bà đánh đang koto hẳn là người trong gia đình nhà chủ. Tuy nhiên bà ta ngồi mãi trong xa và gương mặt của bà bị bóng mấy cây hoa lau hagi và susuki chưng bày làm tối đi nên chúng tôi không thể quan sát rõ ràng từ chỗ mình đứng. Cha tôi như thể kiếm cho bằng được cách nhìn thật gần, đi đi lại lại không ngừng dọc hàng rào để thay đổi vị trí nhưng tầm mắt ông cứ vướng mấy cành hoa lau kia. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nét trang điểm đậm nhạt và màu áo kimono bà chủ ấy mặc, ta không có thể bảo đó là một người lớn tuổi. Giọng bà ta còn son trẻ lắm. Cho dù vì cách nhau khá xa, chúng tôi không hiểu được họ đang nói chuyện gì, chỉ riêng cái giọng nói ấy nó tách ra khỏi những giọng khác với dấu nhấn cao cuối câu, đặc điểm của tiếng nói vùng Ôsaka như "Vậy hở?", "Chắc thế đấy!"... vang lên trong khu vườn làm ta cảm thấy ngay cái tươi tắn, giàu âm hưởng, đầy sinh khí của nó, rất trong trẻo và ngân mãi ra. Người đàn bà ấy hình như đã ngà ngà say nên lâu lâu phát ra một tiếng cười khanh khách làm cho toàn thể khuôn mặt một nét vui tươi rạng rỡ đồng thời vẫn giữ được vẽ thanh lịch và đượm chút ngây thơ.
Tôi thử lên tiếng hỏi : "Bố ơi, thế mấy người nầy đang làm cỗ trông trăng, hở bố?"

thì nghe cha tôi trả lời "Chắc vậy đó con!"nhưng ông vẫn không ngừng nhìn xuyên qua hàng dậu. Tôi lại gặng thêm: "Bố có biết đây là nhà ai không?" nhưng lần nầy cha tôi chỉ ậm ừ gật đầu và có vẻ như đang bị thu hút hoàn toàn bởi cảnh tượng trước mắt. Bây giờ nghĩ lại mới thấy khoảng thời gian cha tôi cứ đứng như vậy dài tưởng như không bao giờ chấm dứt, vì trong lúc đó, mấy cô hầu đã đứng lên cắt bấc nến cũ ít nhất hai ba lần. Sau khi xem trình diễn một điệu múa nữa, nữ chủ nhân cất giọng trong thanh ca một bài, vừa đánh đàn koto đệm theo. Chúng tôi nhìn họ mãi đến cuối tiệc, lúc các thực khách đã rời hàng hiên. Tôi không nhớ rõ đường về như thế nào, chỉ biết là một quãng đi bộ rất dài và chán ngấy dọc theo mặt đê. Ông có thể hiểu tại sao tôi còn giữ được ký ức rõ ràng về một chuyện xảy ra đã quá lâu, khi hãy còn quá trẻ không? Trên thực tế, như tôi vừa có dịp thưa với ông xong ,từ hôm đó trở đi cho đến nhiều năm sau, mỗi khi đến rằm tháng tám, cha tôi lại đưa tôi đi trên con đê ấy; thế rồi, chúng tôi lại ngừng trước cánh cổng của ngôi biệt thự bên mặt đầm, lại nghe tiếng đàn koto và shamisen; để rồi cha tôi lại đi vòng bức tường thăm dò qua bờ dậu những gì xảy ra trong vườn. Quang cảnh ngôi biệt thự hầu như không có gì thay đổi theo năm tháng, mỗi lần đều thấy lại người đàn bà có lẽ là nữ chủ nhân ngôi nhà ấy với mấy người bạn nghệ sĩ và hầu gái như thường lệ tiêu khiển quanh một bữa cỗ trông trăng. Tuy rằng kỷ niệm về những điều quan sát được vào cái năm đầu tiên sẽ được bổ túc bằng chi tiết mới thu lượm trong mấy năm sau nầy nhưng phải nói là cảnh tượng mà tôi vừa mô tả cho ông nghe cứ lập đi lập lại như vậy hằng năm.
-" Ra là thế! ". Tôi như bị lôi cuốn vào thế giới kỷ niệm của người đàn ông. "Nhưng ngôi biệt thự ấy nó là cái gì thế , hở ông? Chắc cụ nhà phải có lý do gì đặc biệt mới cứ trở lại chốn đó mỗi năm chứ?
-" Lý do ấy à?". Người đàn ông trả lời sau khi chần chừ một chút : "Nói cho ông nghe thật ra không hề gì. Nhưng dù sao ông là người không quen không biết nên tôi chỉ ngại câu chuyện tôi kể nó nhàm tai và làm mất thì giờ ông thôi ".
-" Nghe đến đây rồi mà ông không cho nghe tiếp thì ức quá. Thật đấy ! "
-" Cảm ơn ông đã không quan ngại. Nếu ông có lòng quí hóa như vậy thì tôi xin được kể tiếp câu chuyện của tôi ". Ông ta vừa nói vừa kéo cái bầu rượu khi nãy ra. " Nhân nói đến ức, trong bầu nay hãy còn một ít rượu, chúng mình thanh toán nó cho xong để khỏi tiếc nuối gì nữa ". Ông ta trao cái chén cho tôi rồi lại nghiêng bầu đổ rượu vào ục ục.

Sau khi cẩn thận dốc bầu rượu, chắt cho thật kiệt, người đàn ông kể tiếp :
-" Trong những dịp cuốc bộ hàng năm đêm rằm trên đê với cha tôi như thế, mỗi khi cha tôi đề cập đến câu chuyện, mặt ông lúc nào cũng nghiêm trang và nói với tôi bằng một giọng như thể với một người cùng lứa tuổi : "Con còn trẻ nên chưa hiểu được bố nói gì đâu nhưng khi nào con lớn lên, bố mong con nhớ lại những chuyện hôm nay. Do đó, bố không coi con là con nít, bố muốn nói chuyện với con như một người lớn. " Trong trường hợp nầy , để chỉ nữ chủ nhân của trang viên mà ông dắt tôi đến mỗi năm, ông gọi " người ấy" hay " Yuu phu nhân " " Con đừng quên " Yuu phu nhân ", con nhé ! Nếu bố đưa con đến đây thường xuyên mỗi năm, là để sau nầy con có thể nhớ lại xưa " phu nhân " đã sống như thế nào!". Ông nói bằng một giọng nghẹn ngào, và tuy tôi không hiểu hết lời ông nói nhưng vì tính tò mò thường thấy ở trẻ con, lại thêm nhờ sự nhiệt thành toát ra từ cha tôi, tôi đã có thể chăm chú nghe những điều ông nói. Rốt cục, tôi có phần nào hiểu được và thông cảm với những điều ông muốn bày tỏ.

Người mà cha tôi gọi là " Yuu phu nhân " sinh trong gia đình Kosobe ở Ôsaka. Theo lời cha tôi, năm mười bảy tuổi, nàng về làm dâu họ Kayukawa và nổi tiếng là một người tuyệt đẹp. Tuy nhiên chỉ được bốn năm năm thì chồng qua đời nên mới hăm hai hăm ba, nàng đã góa bụa. Nếu là thời bây giờ, không ai ép một người đàn bà ở vậy suốt đời và những người chung quanh sẽ sẳn sàng can thiệp nếu chuyện đó xảy ra nhưng hồi đó mới đầu thời Meiji và tập tục cổ lỗ cuối Mạc Phủ hãy còn ảnh hưởng mạnh lắm. Ngoài ra, dường như trong gia đình ruột thịt cũng như phía nhà chồng có những người thân thích già cả lắm mồm, lại thêm, như lời cha tôi kể, giữa nàng và ông chồng quá cố chừng có một mụn con trai, làm cho những dự tính bước đi bước nữa của nàng không sao thực hiện được. Không những thế, O-Yuu còn được mẹ chồng lẫn chồng hết sức quí trọng vì họ cất công cưới nàng về nên chi từ khi làm dâu cô ta càng được nuông chìu, chẳng phải làm lụng, sướng hơn hồi còn con gái. Ngay sau khi đã lâm vào cảnh góa bụa, nàng vẫn còn dắt theo một đám kẻ hầu người hạ thăm núi nầy, viếng cảnh nọ, tự do sống xa hoa như thế. Người ngoài nhìn vào thì thật là một cuộc đời không chút lo âu, còn người trong cuộc ngày ngày cứ thỏa mãn sung sướng nên không cảm thấy có gì đáng nói. Đó là cuộc sống của O-Yuu ngày cha tôi mới gặp nàng lần đầu. Lúc đó cha tôi mới hăm tám, tôi thì chưa ra đời và ông hãy còn độc thân. O-Yuu hăm ba tuổi. Theo lời cha tôi kể, chuyện xảy ra vào đầu mùa hè một hôm ông đi xem hát ở khu Dôtombori cùng với vợ chồng người em gái, tức là cô dượng tôi ; O-Yuu ngồi ở một lô ngay phía sau họ, đi cùng một người con gái tuổi độ mười sáu, mười bảy và một bà già, hình như là nhũ mẩu hay quản gia cùng với hai cô tớ gái. Ba người hầu cận này ngồi đằng sau cô và thay nhau lấy quạt để quạt mát cho cô. Cô tôi cúi đầu chào O-Yuu và khi cha tôi hỏi ai đó thì được cho biết là cô dâu góa nhà Kayukawa. Thiếu nữ đi theo chính là em ruột nàng, cũng là con gái họ Kosobe. " Ba mới gặp đã mê liền ! " , cha tôi sau đó thường lập đi lập lại với tôi như vậy. Hồi thời đó, người ta lấy vợ lấy chồng rất sớm và trường hợp cha tôi, trưởng nam và kẻ thừa kế trong nhà, đã hai mươi tám tuổi mà hãy còn độc thân, chứng tỏ ông ta rất kén và đã từ chối tới tấp bao nhiêu đám người ta làm mai cho. Thiên hạ đồn và chuyện này thật ra cũng có là ông hay lui tới các phòng trà và cho dầu ông cũng có một số liên hệ tình cảm với các cô ở đó nhưng ông không chịu lấy cô nào trong đám ấy làm vợ cả. Nói cách khác, cha tôi lại - nói sao cho đúng nhỉ - khá công tử hay quan cách, nên chỉ thích đàn bà có dáng dấp quí phái, kiểu các cô như tiểu thơ trong phủ đệ, lượt là áo choàng uchikake và bắt người ta đọc Truyện Ông Hoàng Genji cho nghe giữa trướ