Nhập từ khoá cần tìm

Ca dao Việt Nam » Ca dao về Chống Ngoại Xâm

Tháp Mười năng lác mênh mông,
Tây vô tới đó quyết không đường về.
Xem: 5546
Nguồn: e-cadao.com
Bình luận Sắp xếp theo
Ca dao cùng thể loại Phân loại Tỉnh Số lần xem
Tiếng đồn ông Tú Đỉnh
Coi "Tân tỉnh" Sông Côn,
Vì nghe vua Đồng Khánh, lên non mất đầu (3).
Chống Ngoại Xâm Miền Trung, Quảng Nam 6632
Là dòng dõi của Tiên Rồng,
Nhân dân Đồng Tháp ta không biết quỳ.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 5974
Ai đến quê tôi mênh mông Đồng Tháp,
Thẳng cánh cò bay bát ngát ruộng đồng,
Tiếng hò dìu dặt dòng sông,
Nhớ người du kích anh hùng thương binh.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 6606
Trên thượng thơ bán giấy
Dưới Thủ Ngữ treo cờ.
Kìa Ba còn đứng trơ vơ!
Nào khi núp bụi, núp bờ,
Mũi Di đánh dạo bây giờ bỏ em
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, Sài Gòn 2926
Sông Trà Khúc, ai mà tát cạn,
Rừng Trà Bồng, ai đẵn cho hết cây ?
Chống Ngoại Xâm Miền Trung 1850
Nhớ xưa liệt sĩ bốn người (Câu 4)
Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không?
Tao ăn một tháng mười đồng
Cũng là da thịt của trong toàn kỳ
Cơm thừa canh cặn ra chi
Hãy còn khéo nói, kể gì làm ơn
Dựa Nam nhân, giết Nam nhân
Gọi to một tiếng “Đồng bào!”
Hồn thiêng theo trận gió ào lên mây
Ôi thương thay! Ôi thương thay!
Kể sao cho xiết chết lây những người
Văn minh thật đã lạ đời
Đàn bà giết cả đến người hàng cơm
Thôi thôi trâu béo cỏ rơm
Trăm nghìn phó một mũi gươm là rồi
Khen cho liệt sĩ bốn người
Một lòng vì nước muôn đời tiếng thơm…
Chống Ngoại Xâm Miền Bắc, Hà Nội 3804
Má ơi chiến sĩ của mình,
Đánh Tây giỏi quá khiến tình con thương.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 9275
Gáo vàng đem múc giếng Tây
Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta
Chống Ngoại Xâm Đại Chúng 5070
Nước mắm ngon dầm con cá sặc,
Ăn gạo Lấp Vò giết giặc lập công.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 903
Lá tràm xanh che anh giải phóng,
Đánh quân thù sạch bóng xâm lăng.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 4750
Ô Loan nước lặng như tờ,
Thương người chiến sĩ dựng cờ Cần vương (1)
Trải bao gối đất nằm sương,
Một lòng vì nước nêu gương anh hùng.
Chống Ngoại Xâm Miền Trung, Phú Yên 5599
Anh đi em cũng xin đi,
Anh đi vệ quốc, em thì cứu thương.
Đôi ta ra giữa chiến trường,
Chung phần chiến đấu, giữ gìn tự do.
Chống Ngoại Xâm Miền Trung 3886
Hở môi, răng lạnh ai ơi !
Chính quyền có vững ta thời mới yên,
Đua nhau kẻ gạo, người tiền,
Giúp vùng mới chiếm, giữ miền tự do.
Chống Ngoại Xâm Miền Trung 6472
An Giang lịch sử mang tên,
Có đồi Tức Dụp, có đền Bác Tôn.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, An Giang 980
Giời làm sóng lở cát bay (Câu 2)
Em ngồi em nghĩ xôn xao
Kẻ lên Tứ Mỹ, kẻ vào Sơn Đông
Kỳ này thì vợ bỏ chồng
Chồng lại bỏ vợ kẻ Đông, người Đoài
Người thì buôn sắn, người lại buôn khoai
Người thì buôn mía dông dài quàng xiên
Gạo hơn nhưng chẳng có tiền
Cho nên phải xách tổ tiên đi cầm
Nghèo thì bán bát, bán mâm
Giàu thì đi cố, đi cầm ruộng nương
Có thì bán sập, bán giường
Đói quá bán cả giá hương, long bài
Nhà giàu tích lúa lên hai
Để cho nhà khó đến nài chẳng cho
Ruộng cạn, má úa có nhờ nhau không!
Giời làm một cạm thâm đông
Gặp cơn gió bấc sạch không làu bàu
Ai ngờ ngã bỡn mà đau
Tháng mười nước lại ở đâu mới về.
Chống Ngoại Xâm Miền Bắc, Hà Nội 956
Anh đi gìn giữ quê hương,
Có em ở lại đảm đương gia đình.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, An Giang 6231
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm (10)
Rượu hồng đào chưa nhắm đã say
Anh hùng thước lụa trao tay
Nước non một gánh vơi đầy ai hay
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm,
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say.
Lòng ta như chén rượu cay
Lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi
Câu hò từ thuở xa xôi
Bao năm còn vọng đậm lời nước non.
Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn,
Tình dân nghĩa nước một lòng sắt non.
Đẹp gì súng giặc anh mang,
Mà đi đốt phá xóm làng hồi anh ?
Chống Ngoại Xâm Miền Trung 9884
Qui Nhơn eo biển có cầu,
Có phố chú Chả, có lầu ông Tây.
Thông ngôn, ký lục lắm thầy,
Chân thì giày ống, tay thì ba toong,
Vợ thì đánh phấn thoa son,
Nước non còn mất, mất còn không hay.
Chống Ngoại Xâm Miền Trung 1795
Ai qua lộ bốn vừa chốn Ba Dừa,
Thấy chăng tàu chuối đung đưa,
Đượm tình quê mẹ những giờ chiến công.
Chống Ngoại Xâm Miền Nam, 6332
Lỡ lầm vào đất cao-su
Chẳng tu thì cũng như tù chung thân.
Chống Ngoại Xâm Đại Chúng 1901